Tại sao bị đắng, khô miệng vào ban đêm?

251

Đắng và khô miệng là do hỏa gây ra. Hỏa có hai loại: thực hỏa và hư hỏa. Bình thường chúng ta ít khi bị thực hỏa hay gọi nôm na là dư hỏa.

Nguyên nhân gây ra thực hỏa là do chúng ta ăn uống rượu thịt quá độ hay quá nhiều trái cây nóng như mít, xoài, sầu riêng…

Còn nguyên nhân gây ra hư hỏa là do âm suy mà gây ra. Muốn định bệnh thực hay hư hỏa là do bổn phận của thầy thuốc, cần có kinh nghiệm lâm sàng cũng như lý thuyết về âm dương và mạch lý.

Đây không phải là bệnh khó chữa và nguy hiểm, nhưng làm cho chúng ta khó chịu, không thoải mái trong đời sống và nếu không chữa có thể từ từ đưa tới những bệnh khác như lở miệng, ăn không ngon, mất ngủ, đại tiện bón, mỡ và cholesterol trong máu hơi cao, hay bệnh tiểu đường…

Tuy nhiên đắng miệng về đêm nhiều hơn ngày vì thận âm suy. Như chúng ta đã biết con người là một tiểu vũ trụ và luôn luôn biến đổi theo đại vũ trụ. Nghĩa là khi đổi từ ngày qua đêm là từ dương qua âm, thì cơ thể cũng phải thay đổi theo, nhưng khi thận âm suy không thích ứng được với sự thay đổi của vũ trụ, gây ra sự cách biệt giữa âm và dương nhiều hơn ban ngày mà gây ra hư hỏa làm đắng miệng là nguyên nhân.

Đắng miệng ban đêm do hư hỏa

Do thận và gan âm suy: Thận và gan âm suy, gây ra hư hỏa âm ỉ đốt, làm tổn thương âm phận, gây ra mất ngủ hay ngủ chập chờn, lưỡi và cổ họng khô, miệng đắng, dễ giận, ăn không thấy ngon, lợm giọng nhưng không mửa, tức hai bên giang sườn, mệt mỏi.

Đồng thời gây khô mắt mà Tây y gọi là thiếu thủy dịch, phải dùng nước nhân tạo nhỏ vào mắt hằng ngày, giúp cho mắt đủ độ ấm.

Lưỡi khô và đỏ. Mạch huyền và sác.

Bài thuốc Lục Vị Địa Hoàng Thang 1-Toan táo nhân 9 grs 2-Viên chí 6 grs 3-Thạch xương bồ 6 grs 4-Bá tử nhân 6 grs 5-Long đởm thảo 6 grs 6-Cát căn 6 grs 7-Sài hồ 9 grs 8-Chi tử 6 grs 9-Cam thảo 3 grs

-Toan táo nhân, viễn chí, thạch xương bồ, bá tử nhân: An tâm và ngủ ngon. -Sài hồ, long đởm thảo, cát căn, chi tử: Xơ gan, tả hỏa và trị khô miệng, lưỡi, mắt, và chóng mặt. -Cam thảo: Phối hợp các vị thuốc.

Ngoài ra đắng miệng ban ngày thường do thực hỏa gây ra.

Đắng và khô miệng do thực hỏa gây ra

Do ăn uống quá độ: Bệnh thường tới cấp kỳ, chúng ta thường nhận ra do ảnh hưởng của sự ăn uống quá độ. Miệng và lưỡi khô và đắng. Mạch phù đại và sác.

Chủ trị: Thanh nhiệt, lương huyết.

Bài thuốc 1-Sanh địa 12 grs 2-Đan sâm 9 grs 3-Kim ngân hoa 9 grs 4-Sơn tra 9 grs 5-Thiên hoa phấn 9 grs 6-Trúc nhự 9 grs 7-Hoạt thạch phấn 3 grs 8-Bạch mao căn 9 grs 9-Cam thảo 3 grs

-Sanh địa, đan sâm: Lương huyết. -Sơn tra: Tiêu thực. -Kim ngân hoa: Thanh hỏa, trừ viêm. -Hoạt thạch phấn, trúc nhự: Thanh nhiệt. -Thiên hoa phấn: Thanh bao tử nhiệt do thức ăn. -Bạch mao căn: Lợi tiểu, thanh nhiệt. -Cam thảo: Phối hợp các vị thuốc.

Do cảm cúm phong nhiệt: Sợ nóng, phát sốt nhiều, nhức đầu, mắt đỏ, miệng khô, lưỡi khô. Lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng dầy. Mạch phù sác.

Chủ trị: Tán phong nhiệt và thanh nội nhiệt.

Bài thuốc Sài Hồ Cát Căn Thang 1-Sài hồ 9 grs 2-Bạch thược 6 grs 3-Cát cánh 9 grs 4-Thạch cao 4 grs 5-Cát căn 6 grs 6-Sinh khương 3 grs 7-Hoàng cầm 6 grs 8-Bạch chỉ 3 grs 9-Nhân sâm 6 grs 10-Khương hoạt 6 grs 11-Đại táo 3 trái 12-Cam thảo 3 grs

-Sài hồ, hoàng cầm, bạch thược, thạch cao: Thanh nội nhiệt do gan và phế dưới ngực và tim. -Cát căn, bạch chỉ: Giải thấp nhiệt trong cơ thể và nhức đầu. -Khương hoạt: Giải nóng lạnh, nhức đầu và ngưng ra mồ hôi. -Cát cánh: Phối hợp và thúc đẩy các vị thuốc làm việc và tuyến phế. -Cam thảo: Phối hợp các vị thuốc. -Nhân sân: Bổ thận và phế khí. -Sinh khương: Giải phong. (Bác Sĩ Đặng Trần Hào)